Theo Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

1. Quá trình hình thành Viện kiểm sát nhân dân

1.1. Sự hình thành cơ quan Công tố ở nước ta

Từ năm 1945 đến năm 1958, cơ quan Công tố ở nước ta chưa được tổ chức thành hệ thống cơ quan độc lập mà đặt trong hệ thống Tòa án, được giao thực hiện đồng thời hai chức năng là: thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư pháp (chỉ đạo điều tra, trực tiếp điều tra một số loại tội phạm; quyết định việc truy tố; buộc tội trước tòa; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và giám sát việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử, giam giữ, cải tạo và thi hành án; tham gia trong một số loại việc dân sự quan trọng để bảo vệ lợi ích của Nhà nước và lợi ích của xã hội). Chức năng, nhiệm vụ đó của cơ quan công tố nước ta có nhiều điểm tương đồng với Viện Công tố ở các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, điển hình là Cộng hòa Pháp.

Đến năm 1959, cơ quan Công tố được tách khỏi hệ thống Tòa án, trở thành hệ thống cơ quan độc lập và trực thuộc Chính phủ, chịu sự lãnh đạo của Chính phủ. Hệ thống Viện Công tố ở các địa phương được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “song trùng” trực thuộc, vừa chịu sự lãnh đạo của Viện Công tố cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời chịu sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính cùng cấp. Viện Công tố được tổ chức thành 4 cấp phù hợp với hệ thống Tòa án (Viện Công tố Trung ương, Viện Công tố phúc thẩm được tổ chức theo vùng, Viện Công tố cấp tỉnh và Viện Công tố cấp huyện). Viện Công tố có chức năng, nhiệm vụ: điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm tội; giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra, xét xử, thi hành các bản án về hình sự, dân sự; giam giữ và cải tạo; khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

1.2. Sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân

Ngày 15 tháng 7 năm 1960, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khoá II) đã thông qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân gồm 6 chương, 25 điều, quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân; Luật này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố ngày 26/7/1960. Đây là đạo luật quan trọng, đánh dấu sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta. Có thể nói, việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và nguyên tắc tổ chức theo hệ thống dọc của Viện kiểm sát nhân dân là một bước tiến mới bảo đảm cho việc thực hiện pháp chế thống nhất trong lịch sử nước ta.

Tại Hội nghị kiểm điểm công tác 6 tháng đầu năm và học tập Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 của ngành Kiểm sát nhân dân diễn ra vào ngày 02/8/1960, đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhấn mạnh đến sự cần thiết và trách nhiệm to lớn của Viện kiểm sát nhân dân: “Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân chính là để đảm bảo nhiệm vụ chuyên chính dân chủ nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi và phát triển nền dân chủ ấy... Việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân có mục đích bảo đảm pháp chế dân chủ nhân dân được tôn trọng, luật pháp được tôn trọng, quyền lợi chính đáng của nhân dân được tôn trọng. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và mọi người công dân là rất quan trọng. Làm việc này so với công tố trước kia thì nhiệm vụ đã mở rộng, quyền hạn lớn lên... Kiểm sát là làm thế nào bảo đảm trấn áp phản cách mạng, không để chúng lọt lưới hoành hành, bảo đảm giữ gìn trật an ninh, tài sản và quyền lợi chính đáng của nhân dân[2].

Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, tại phiên họp từ ngày 24 đến ngày 29/4/1961, Ban Thường trực Quân ủy Trung ương đã ra quyết nghị tổ chức Viện kiểm sát quân sự trong Quân đội. Thi hành quyết nghị trên của Ban Thường trực Quân ủy Trung ương, ngày 12/5/1961, Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng đã ra Thông tri số 06/TT-H hướng dẫn tổ chức các Viện kiểm sát quân sự. Ngày 12/5/1961 chính thức trở thành ngày thành lập ngành Kiểm sát quân sự[3].

Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân, đặt trong Quân đội dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng uỷ Quân sự Trung ương và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.